Đó là niềm vui của một con người nhận thức được rằng mình chính là tinh hoa của sự sống, trước khi sự sống ấy trở thành hữu hình. Đối với tự ngã, cái Tôi là tích cực hay tiêu cực là chuyện không thành vấn đề. Đây chỉ là những khổ đau cũ còn sót lại từ quá khứ mà thôi.
Tức là chỉ để ý, chú tâm đến sự yên tĩnh đó. Nhưng ngôn ngữ lúc đó chỉ là thứ yếu. Tái sinh sang một kiếp khác cũng không giúp được gì cho bạn, nếu trong đơi kiếp tới, bạn vẫn không biết bản chất chân thực của mình là gì!
Những gì bạn đã chấp nhận hoàn toàn sẽ đem bạn đi vào trạng thái tĩnh lặng, ngay cả với những gì trước đây bạn đã không thể chấp nhận. Những ngwofi đang dấn thân vào con đường tâm linh, đi tìm giác ngộ ở một tiêu điểm ở tương lai – là một người dấn thân, điều này ám chỉ rằng bạn rất câầ đến tương lai. Cái nói quen thuộc: “Cuộc đời của tôi/anh ấy/ cố ấy” khiến chúng ta dễ hiểu lầm rằng sự sống là một cái gì mà bạn, hay một ai đó, có thể sở hữu hay đánh mất.
Bằng nhận thức sâu sắc rằng bạn chính là ý thức, là sự nhận biết trong đó mọi hiện tượng trong đời sống được phát sinh, thì bạn sẽ thoát ra khỏi sự phụ thuộc vào mọi hiện tượng của đời sống và thoát ra khỏi nỗ lực đi tìm một nhân cách cho chính mình qua những tình huống sống, nơi chốn và hoàn cảnh sống của bạn. Mỗi một tai hoạ luôn ẩn giấu một khả năng của một sự cứu rỗi lớn lao mà chúng ta thường khong biết được. Bạn phải vượt lên trên những loại suy tư, cảm xúc ấy để nhận ra rằng, dù bạn có diễn kịch “đời mình” hay cuộc đời của một ai khác, hoặc phê phán về bất kỳ một tình huống nào,…thì đó cũng chỉ là một quan điểm, không hơn không kém, là một trong muôn ngàn quan điểm khác nhau.
Ngôn từ chỉ là những tấm bảng chỉ đường, không hơn không kém. Đó là sự chuyển hướng từ trạng thái tự đồng hoá mình với hình tướng – ý tưởng hay cảm xúc của mình – sang trạng thái an nhiên tự tại và nhận thức rằng mình chính là tâm thức khoáng đạt, mình chính là Tâm khi không còn bị vướng mắc bởi một hình tướng nào. Ngược lại, thực tại là một toàn thể thống nhất, trong đó tất cả mọi thứ được đan quyện vào nhau, không có một cái gì có thể tồn tại độc lập, riêng lẻ.
Bạn không cần phải là một người Công giáo mới có thể hiểu được nghĩ sâu sắc của biểu tượng Thập Tự Giá. Nhưng những gì kinh văn không nhắc đến – nhưng đã chỉ thẳng ra – còn quan trọng hơn là những gì kinh văn đề cập đến. Bạn cũng sẽ cảm thấy rằng vật ấy rất linh động, chứ không phải là một cái gì chết cứng, vô tri…như cảm nhận sai lầm của giác quan của bạn.
Có một sự thông thái, hiểu biết sâu xa ở trong bạn, mà chắc chắn không phải là trạng thái suy nghĩ, ưu tư. Kinh văn là những bảng chỉ đường đầy năng lực về chân lý qua một thể văn ngắn gọn như là một thể văn viết trong cách ngôn, hoặc như một câu văn ngắn, với rất ít lời giải thích. Cũng như những kinh văn cổ điển, những gì được viết ra trong cuốn sách này là những gì rất thiêng liêng và đã đến từ một trạng thái tâm thức rất yên lắng.
Có một sự thông thái, hiểu biết sâu xa ở trong bạn, mà chắc chắn không phải là trạng thái suy nghĩ, ưu tư. Có một không gian im lắng rộng lớn ôm trọn lấy thiên nhiên trong vòng tay mình. Đây không phải là một cuốn sách mà bạn có thể đọc ngấu nghiến một mạch từ đầu đến cuối, rồi cất lên kệ sách… cho bụi đóng.
Nói một cách khác: Cảm nhận về bản chất chân thật thường bị che mờ bởi những tình huống trong đời bạn, và bởi dòng suy tưởng miên man, và những phiền nhiễu khác trong đời sống. Bước nhảy vọt trong tiến trình phát triển của tâm thức nhân loại là vượt lên trên những suy tư không-có-chủ-đích , những lo sợ vẩn vơ ở trong mình. Bạn luôn sống cho tương lai, và ngay cả khi bạn đạt được mục tiêu của mình, bạn vẫn không cảm thấy hài lòng, hay cùng lắm thì sự hài lòng ấy cũng chóng phôi pha.
Nhưng dù thế nào, nhưng niềm vui hay nỗi buồn như thế không thể xáo trộng tâm bạn được lâu. Qua “bạn”, cái Tâm vô hình tướng (42) đã tự ý thức được chính nó. Kinh Vệ Đà (Vedas) và Áo Nghĩa Thư (Upanishads) là hai bộ sách sớm nhất về giáo lý thiêng liêng của Ấn Độ giáo được ghi theo lối kinh văn , tương tự những kinh văn ghi lại lời dạy của Đức Phật sau này.