Nếu Einstein tự nhận rằng 100 lần thì 99 lần lầm lẫn, có lẽ ta có ít nhất cũng phải lầm 80 lần. Ngày giáp lễ Giáng sinh, tôi ở sở ra hồi ba giờ chiều và thơ thẩn trên đại lộ thứ 5 để tìm sự khuây khoả. Ông khổ công tra cứu đến nỗi chẳng thấy mấy lúc ông đã có thể diễn thuyệt và thảo luận về những vấn đề đó, dù không lúc nào ông rời chiếc ghế có bánh xe.
Lần sau nếu con quỷ ưu phiền tấn công bạn và dồn bạn vào một xó thì xin bạn cứ đọc câu thần chú sau này của Willis H. Giữa đường ông không muốn đi nữa thì thôi, ngừng lại. Vậy chúng ta nên nhớ quy tắc thứ bảy này:
Ta hấp dẫn cái gì giống ta chứ không hấp dẫn cái gì ta cần. Nhưng khi xưa, nếu anh không biết làm cho công việc buồn tẻ thành ra hứng thú, có lẽ bây giờ anh vẫn còn là chú thợ máy quèn. Bởi vậy tôi chẳng hề cản.
Tôi sợ gì? Sợ nghe hung tin con trai nhỏ tôi chết! Cháu đau màng óc ông ạ. Bà theo săn sóc chồng. Tôi tự hỏi mục đích ở đời là gì? Song trả lời không được, suy nghĩ hoài không ra.
Mười bốn công ty bán sữa ở Ambert nhờ anh việc đó và anh phải mướn thêm hai người phụ tá. Mà kiếm việc làm thì đã sao chưa? Mình thạo về nghề buôn dầu xăng và có thể gặp nhiều hãng rất vui lòng dùng mình". Chưa có trại nào bị gió tung lên trời, thì theo luật trung bình, đêm nay cũng không sao hết; mà nếu rủi trại mình có thổi tung đi nữa thì qua trại khác chứ có gì đâu.
Lời đó thốt ra 399 năm trước Giê Su giáng sinh, nhưng ngày nay cái thế giới gìa cỗi, ưu tư của bọn ta cần nhớ lại lời ấy hơn bao giờ hết "Rán vui vẻ coi thường một tình thế phải tới". Chính những thượng cấp của ông sống sung sướng ở Washington lại phát điên, vì Peary đã nỗi danh vang lừng trong nước. Xin bạn cho tôi hỏi một câu: Nếu những hành động vui vẻ và những tư tưởng tích cực về sức khoẻ và can đảm đã cứu sống người ấy, thì tại sao bạn và toi, chúng ta còn để nỗi ưu tư hắm ám của ta kéo dài thêm một phút nữa làm chi? Tại sao lại bắt chính thân ta và những người chung quanh phải khổ sở, phiền muộn, khi chúng ta có thể chỉ hành động một cách vui vẻ là đủ tạo được hạnh phúc?
Mỗi bữa kia, một cựu chiến binh trẻ tuổi và tàn tật cùng làm với tôi bảo rằng: "Anh Johnny ạ, anh phải biết hổ thẹn chứ? Trông anh người ta tưởng ở đời chẳng ai khổ bằng anh. Ông tốt nghiệp Đại học đường Iowa vào năm 1907. Nguyên muốn làm vui lòng một chính khách vị kỷ, ông Lincoln đã ký nghị định dời và đại hội tới một vị trí khác.
Sáng hôm sau, tôi vào hãng, viên đô đốc Nhật đã ngồi đó, miệng ngậm điếu thuốc. Ngày hôm nay tôi sẽ rán bồi bổ tinh thần. "Một năm nằm trêm giường như một kẻ tàn tật và rất có thể chết vẫn hoàn chết!".
Trước khi quyết định, tôi muốn được hỏi ý ngài. Thành thử tôi cũng lại được nghe những lời khuyên mà ba tôi đã viết trong thư: Phải quét hết những rác rưởi chất chứa trong đầu óc tôi đi. Rồi tôi chép lại cả những lý lẽ thuận lẫn những lý lẽ nghịch, và tôi thường thường nhận thấy rằng sự thực ở vào một nơi nào đó, khoảng giữa hai thái cực ấy.
Mà nếu họ có hỏi ý tôi, thì trước kia bàn cải mất ba giờ, nay cũng chỉ mất một giờ thôi. Nếu ta không thể yêu được kẻ thù, làm tốt cho họ, thì ít ra ta cũng phải yêu lấy ta chứ? Ta phải yêu ta, khiến họ không thể làm chủ hạnh phúc, sức khỏe và những nét nhăn trên mặt ta được chứ? Dù sang hèn, giàu nghèo, ai cũng có ưu tư, phiền muộn; chỉ hạng đạt quan, triết nhân, quân tử mới "thản đãng đãng" (thản nhiên, vui vẻ) được, như Khổng Tử nói (Luận ngữ - Thuật nhi - 36).